Cập nhật ngày: 19/12/2014 3:34:25 CH
Xem cỡ chữ:
Giới thiệu một số giống lúa chất lượng có triển vọng phát triển
Nhằm xác định các giống lúa mới có năng suất, chất lượng và phù hợp với điều kiện tự nhiên để bổ sung vào cơ cấu giống của tỉnh; công tác khảo nghiệm cơ bản, khảo nghiệm sản xuất các giống lúa triển vọng là hoạt động được tiến hành thường xuyên, liên tục. Năm 2014, Trung tâm Khuyến Nông Lâm Ngư đã phối hợp với các đơn vị liên quan triển khai thực hiện mô hình sản xuất thử giống lúa mới, trong đó nhóm giống chất lượng gồm có các giống Hương cốm 4, HN6, DT39 DQ11.

 

Qua đánh giá kết quả, các giống lúa mới đều cho năng suất cao, có ưu điểm vượt trội, chất lượng gạo ngon có thể xem xét để thay thế giống lúa HT1 ở các vùng thường bị nhiễm bệnh nhằm tăng năng suất và chất lượng lúa gạo của tỉnh nhà. Đặc biệt, các giống lúa HN 6, HC4 là những giống lúa được đánh giá cao cả về năng suất và chất lượng, có khả năng nhân rộng và phát triển trong thời gian tới.

Chúng tôi xin giới thiệu cụ thể về các giống lúa này.

1.     Giống Hương cốm 4 (HC4):

a.      Đặc điểm giống:

Giống lúa HC4 là giống lúa thơm thuần do PGS.TS. Nguyễn Thị Trâm và các cộng tác viên Phòng công nghệ lúa lai, Viện nghiên cứu lúa, Đại học Nông nghiệp Hà Nội chọn lọc cá thể phân ly từ quần thể giống lúa MHV nhập nội. Giống  có thể gieo cấy được cả 2 vụ, có thời gian sinh trưởng trong vụ Đông Xuân khoảng 110-112 ngày, ngắn hơn giống lúa HT1 từ 8-10 ngày, vụ Hè Thu thời gian sinh trưởng dao động từ 88-90 ngày ngắn hơn giống HT1 khoảng 7 ngày. Giống HC4 có thân mảnh, đẻ khỏe, nhiều bông, lá xanh sáng, bản lá hẹp. Ở giai đoạn lúa đẻ nhánh: phiến lá dài, nhỏ, lá hơi lướt. Ở giai đoạn làm đòng - trổ: lá thẳng đứng, lá đòng mo, bông dài, hạt nhỏ dài xếp sít, trỗ bông tập trung. Khối lượng 1000 hạt 16,5-17 gam. Năng suất trung bình đạt từ 55-60 tạ/ha, thâm canh tốt có thể đạt 65 tạ/ha.

 Chất lượng gạo tốt, hạt gạo dài, nhỏ, trong, không bạc bụng; Chất lượng cơm rất ngon, cơm trắng bóng, mềm xốp, vị ngọt đậm thơm nhẹ, cơm nguội vẫn mềm.

Giống lúa HC4 có khả năng thích nghi rộng, có thể gieo cấy trên nhiều loại đất, khí hậu và điều kiện canh tác khác nhau;  nhiễm nhẹ bệnh khô vằn, đạo ôn, lem lép hạt,  không có khả năng kháng rầy.

b.     Kỹ thuật sản xuất:

Bố trí thời vụ theo khung lịch do Sở Nông nghiệp & PTNT hướng dẫn đối với nhóm giống lúa ngắn ngày. Lượng giống gieo: 4-5kg/500m2, áp dụng quy trình phân bón như đối với giống lúa ngắn ngày.

 

 

 

 

Các vấn đề cần lưu ý:

Giống HC4 không phải là giống thâm canh, chỉ cần lượng phân bón vừa phải và cân đối. Là giống nhiễm đạo ôn lá trong vụ Đông Xuân nặng hơn so với các giống khác đang sản xuất đại trà, do đó trong sản xuất phải áp dụng các biện pháp canh tác đồng bộ, chú ý bón phân cân đối, bón nặng đầu nhẹ cuối, không bón nhiều đạm; phun phòng đạo ôn lá vào thời kỳ đẻ nhánh rộ, phòng đạo ôn cổ bông trước và sau trổ; điều tiết nước hợp lý. Vụ Hè Thu có nhiễm khô vằn, lem lép hạt nhện gié; tuy nhiên so với giống HT1 và nếp IR352 thì mức độ bị ảnh hưởng trên giống HC4 nhẹ hơn nhiều, giống có thân nhỏ yếu, lá trải dài nên dễ đổ ngã hơn một số giống khác khi gặp điều kiện bất lợi, đặc biệt là những vùng đất sâu bùn nhưng không có chế độ bón phân cân đối và điều tiết nước hợp lý.

2.     Giống HN6:

a.      Đặc điểm giống:

HN6 là giống lúa có thể gieo cấy được cả 2 vụ, có thời gian sinh trưởng trong vụ Đông Xuân là 110 ngày, ngắn hơn HT1 từ 7-10 ngày; vụ Hè Thu có thời gian sinh trưởng khoảng 88-92 ngày ngắn hơn giống HT1 khoảng 3-5 ngày. Giống  có dạng khóm hơi gọn, đẻ nhánh khá, lá đứng, trổ bông tập trung, hạt dài, chất lượng cơm dẻo, ngon, vị đậm. Giống có khả năng thích ứng rộng phù hợp nhiều chân đất khác nhau. Có khả năng chống đổ khá, chống chịu với điều kiện ngoại cảnh và sâu bệnh khá. Năng suất trung bình đạt từ 55-60 tạ/ha, thâm canh tốt có thể đạt 65-70 tạ/ha.

b.     Kỹ thuật sản xuất:

Bố trí thời vụ theo khung lịch do Sở Nông nghiệp & PTNT hướng dẫn đối với nhóm giống lúa ngắn ngày. Lượng giống gieo: 5kg/500m2, áp dụng quy trình phân bón như đối với giống lúa ngắn ngày.

 

 

 

 

Cần lưu ý:

Giống HN6 trong vụ Đông Xuân có thời gian sinh trưởng ngắn hơn giống HT1 khoảng 10 ngày nhưng trong vụ Hè Thu chỉ ngắn hơn 3-5 ngày.

 

 

 

 

Vụ Đông Xuân có thể bố trí sản xuất trên nhiều chân đất khác nhau.  

Vụ Hè Thu nên bố trí trên các chân đất sâu bùn. Cần quan tâm phòng trừ bệnh khô vằn và lem lép hạt, nhất là trên các chân đất có tầng canh tác mỏng.

 


Phan Ánh- TT Khuyến nông lâm ngư